Rất nhiều người chơi nghĩ bể thủy sinh với một bộ nền mới, thậm chí lót thêm cốt nền đậm đặc là không thiếu dinh dưỡng. Thực tế trong môi trường thủy sinh, mọi thứ không đơn giản như vậy. Kali là một đa lượng đặc biệt và dù nền rất mới, thiếu hụt kali vẫn thường xảy ra và biểu hiện thiếu hụt rõ ràng nhất là cây thủy sinh bị cháy mép lá, thủng lỗ.
Xem thêm: Dinh dưỡng thủy sinh: dấu hiệu thiếu, thừa (có hình ảnh)
TẠI SAO BỂ THỦY SINH MỚI LẠI BỊ THIẾU HỤT KALI?
Sau 1 tháng đầu thay nước tích cực, đa số các hồ thủy sinh đều thiếu hụt Kali dù bạn có dùng cốt nền đậm đặc ra sao đi nữa. Trong 3 chất đa lượng NPK, PO4 cũng thường thiếu hụt ở hồ thủy sinh mới, nhưng thiếu hụt của PO4 nằm ở việc nó kém khả dụng, cây thủy sinh khó hấp thụ trong bể mới. Còn Kali thiếu hụt ở đây đúng với nghĩa đen, tức nó bị mất khỏi hệ sinh thái thủy sinh. Bạn có thể xem thêm bài viết bên dưới về PO4.
Xem thêm: Cây Thủy Sinh Bị Teo Lá, Sẫm Màu Và Những Hiểu Lầm Về PO4
Điều này là do cơ chế trao đổi cation (CEC) của nền, đây là một cơ chế quan trọng của bộ nền thủy sinh. Hiểu đơn giản là các hạt nền có bề mặt mang điện tích âm, sẽ hút các ion điện tích dương như Fe2+, Ca2+, Mg2+, NH4+.v.v. để giữ những ion này không trôi tự do trong cột nước và hình thành kho dự trữ dinh dưỡng trong nền. Kho dinh dưỡng này sẽ tương tác với rễ cây và cân bằng động với cột nước giúp hệ sinh thái ổn định dinh dưỡng hơn.
Xem thêm: Bộ nền thủy sinh và những điều quan trọng hơn là dinh dưỡng.

Vậy đáng lẽ K+ là 1 ion dương cũng phải được nền giữ lại chứ sao lại dễ thiếu hụt? Vấn đề này nằm ở bản chất của ion K+, nó có điện tích +1, so với các ion +2 thì lực liên kết với nền quá yếu.
Trong 1 tháng đầu bạn thay nước liên tục, mỗi lần thay nước sẽ bổ sung không ít các ion khoáng khác bao gồm Ca2+, Mg2+. Những ion khoáng này có điện tích lớn hơn sẽ cạnh tranh bề mặt và đẩy K+ ra khỏi nền. Và K+ trôi trong nước sẽ bị lấy ra ngoài ở lần thay nước tiếp theo.
Vậy còn NH4+ thì sao? Nó cũng là một ion điện tích +1. Thực tế NH4+ dù cũng chỉ +1 nhưng lực liên kết với nền mạnh hơn K+ 1 chút. Nhưng quan trọng hơn NH4+ sinh ra liên tục từ chất thải trong hồ và sự phân hủy hữu cơ đến từ chính bản thân của nền.
Không như N và P, Kali không được tái tạo liên tục từ các quá trình sinh học trong hồ như phân cá, thức ăn thừa hay quá trình khoáng hóa hữu cơ. Kali có thể quay lại hệ sinh thái khi lá già, lá chết phân hủy. Tuy nhiên trong vận hành hồ thủy sinh, các phần thực vật chết thường được cắt tỉa và loại bỏ thủ công để tránh làm tăng tải hữu cơ. Điều này khiến lượng Kali được tái chế thực tế không đáng kể so với Nitrogen và Phosphorus.
Cây thủy sinh cần rất nhiều K, nó là một đa lượng cần lượng lớn. Đường để Kali mất khỏi hệ sinh thái khá nhiều trong khi đầu vào không có.
Đây là lý do mà bộ nền mới sau 1 tháng vẫn còn rất đậm dinh dưỡng nhưng lại thường thiếu Kali và Kali trở thành yếu tố giới hạn dinh dưỡng của cây thủy sinh.
TẠI SAO THIẾU KALI CÂY THỦY SINH LẠI CHÁY MÉP LÁ, THỦNG LỖ?
Thực tế cây thủng lỗ, cháy lá chưa chắc do Kali. Có thể bể của bạn quá thiếu CO2 làm cây có biểu hiện thiếu đa lượng, hoặc cũng có thể do động vật thủy sinh gặm nhấm. Tuy nhiên, các trường hợp này thường ít phổ biến, chỉ nên xem xét khi bạn đã bổ sung rất nhiều Kali (hơn 20 ppm/tuần) mà tình hình không cải thiện.
Kali đóng vai trò là chất đóng vai trò “dòng chảy” bên trong cây thủy sinh. Nước, dinh dưỡng, đường.v.v. bên trong cây cần có Kali để được phân phối tới các vị trí cần thiết. Kali cũng là một chất di động tốt bên trong cây thủy sinh, vậy nên khi thiếu Kali cây thủy sinh sẽ lấy từ lá già để nuôi ngọn non, đảm bảo sinh tồn.
Khi lá già bị rút Kali, dù là cây thủy sinh ở trong môi trường nước, nhưng không có công cụ để lấy nước vào bên trong tế bào, lá sẽ bị mất nước dẫn đến cháy lá. Và điển hình xuất phát từ mép lá già. Sau đó sẽ xuất hiện các đốm hoại tử, các đốm này dần tan rã và hình thành lỗ thủng lá li ti.
Khi thiếu Kali, lá cây thiếu nước cũng làm ngoại quan của lá nhìn khô khốc, không căng.

TƯƠNG TÁC CỦA KALI VỚI CANXI, MAGIE VÀ LƯU Ý KHI BỔ SUNG
Kali khó có thể đo được nồng độ chính xác trong bể thủy sinh như NO3, PO4, các người chơi chuyên nghiệp cũng không thường xuyên đo K. Kali rất lành tính trong môi trường thủy sinh, ở nồng độ cao nó không gây bùng phát rêu hại như các chất dinh dưỡng khác, và cũng khá an toàn cho động, thực vật.
Nhưng có một vấn đề cần lưu ý, ở nồng độ Kali quá cao trong khi nước quá mềm Kali cạnh tranh hấp thụ với Ca và Mg do các ion này dùng cùng một cổng hấp thụ. Điều này làm cây thủy sinh biểu hiện thiếu Ca và Mg (xoăn ngọn, vàng và nổi gân lá già) dù Ca và Mg vẫn có trong nước.
Nồng độ bắt đầu gây cạnh tranh hấp thụ thường gấp đôi Ca. Trong bể thủy sinh có nước mềm GH ~ 3, 4 nồng độ Ca thường khoảng 17 – 25 ppm. Điều này có nghĩa nồng độ K bắt đầu phải lo lắng là 35 – 50 ppm, là con số khá cao nên thực tế bạn cũng không cần quá lo lắng vấn đề này.

Kinh nghiệm của AHL trong việc kiểm soát K bằng TDS: Vì Kali chỉ được bổ sung thông qua phân nước nên chúng ta có thể kiểm soát vấn đề này thông qua TDS. Kali không đi 1 mình, khi bổ sung Kali, bạn châm muối K2SO4 hoặc KCl.v.v. vào bể. Điều này làm TDS tăng không chỉ đến từ K+ mà còn từ SO42- và Cl–, tổng TDS tăng ở khoảng hơn gấp đôi nồng độ Kali (dù không chính xác 100% nhưng vẫn áp dụng được). Vậy bạn chỉ cần giới hạn TDS trong nước của mình không vượt quá 70 – 100 ppm so với nước đầu vào là phần nào kiểm soát được tỷ lệ Kali.
Ví dụ: Nước đầu vào (sau khi đã bổ sung khoáng) là 100 ppm, khi bổ sung các loại phân nước bạn kéo tds tích lũy lên đến 170 ppm, đây là ngưỡng cần thiết thay nước lớn để reset tỷ lệ.
Kali là chất cây hấp thụ rất nhiều, nhưng các anion đi kèm như SO42- và Cl– hệ sinh thái cần rất ít và có xu hướng tích lũy, vậy nên khi TDS tăng cao hơn 70 – 100 ppm so với TDS đầu vào, thay nước lớn 70 – 80% là thực sự cần thiết.
CÁCH BỔ SUNG KALI CHO BỂ THỦY SINH
Vì Kali khó có thể đo, và lành tính nên những người chơi chuyên nghiệp thường bổ sung theo con số đầu vào. Tức là hàng tuần bổ sung mặc định 15 – 25 ppm Kali để đảm bảo Kali không phải là giới hạn dinh dưỡng trong bể của họ. Thay nước ở cuối tuần để reset tỷ lệ và khi tích lũy TDS quá cao thì xem xét thay nước lớn.
Bạn có thể chia làm 3 lần mỗi tuần hoặc bổ sung mỗi ngày tùy vào điều kiện của bạn. Trên phương diện tốt nhất cho hệ sinh thái thì bổ sung mỗi ngày thường được khuyến nghị, vì biên độ dao động dinh dưỡng sẽ thấp hơn, hệ sẽ ít bị shock hơn.
Bạn có thể dùng phân nước Kali hoặc tự pha bằng K2SO4 hoặc KCl các loại phân nước trên thị trường cũng chỉ từ những chất này.
Gợi ý cách tự pha phân nước bằng K2SO4 với K2O=52%:
Dùng 11.6g K2SO4 hòa tan vào 400ml nước cất hoặc RO/DI. Sau đó bạn đổ thêm nước để tổng dung dịch thu được là 500ml. Dùng 1ml dung dịch này châm vào 20 lít nước sẽ tăng 0.5 ppm K.
Tuy nhiên, giới hạn tự pha tại nhà là bạn nên sử dụng hết trong 1 tháng và tốt nhất để trong tủ lạnh vì để bảo quản được lâu cần có khả năng ổn định dung dịch.
Viết bởi: AHL – AquaHomeLab.vn