0987 158 394

aquahomelab.vn@gmail.com

Dinh dưỡng thủy sinh: dấu hiệu thiếu, thừa (có hình ảnh)

Nếu bạn trông chờ 1 bài viết đơn giản kiểu “cây thủy sinh thiếu Fe bị trắng ngọn, thiếu Kali là thủng lá” thì trên internet hiện tại có rất nhiều bài viết kiểu vậy. Ở đây AHL sẽ tập trung nói về cơ chế, để khi hiểu luật chơi bạn có thể dễ dàng kiểm soát hồ thủy sinh của mình. Đảm bảo sẽ không “phí tiền mạng” của bạn!

Bạn có thể không biết chút gì về dinh dưỡng, như tương tác của PO4 và Fe, hay Ca, Mg và K… nhưng cây thủy sinh của bạn vẫn xanh mướt, điều này là bình thường. Tuy nhiên, việc hiểu rõ và có thể tùy chỉnh từng chút một, xem cách hệ sinh thái phản hồi sẽ đem lại cho bạn niềm vui kiến tạo. Cảm giác gây nghiện mà nhiều người chơi thủy sinh thích, chứ không chỉ healing khi ngắm bể như một tác phẩm nghệ thuật. Bài viết này dẫn dắt bạn từ kiến thức dinh dưỡng nền tảng cần phải biết cho đến nâng cao có thể bổ ích cho cả người chơi có kinh nghiệm.

Trên quan điểm của AHL, thủy sinh là game điều khiển hệ sinh thái, bạn đóng vai thượng đế. Và bể thủy sinh đẹp chỉ là kết quả của một hệ sinh thái ổn định do bạn control.

Tốc độ phát triển tối đa của cây thủy sinh phụ thuộc vào yếu tố tối thiểu nhất
Định luật tối thiểu của Liebig

I. Đa Lượng (N, P, K):

1. Nitrogen (Nitơ – Đạm – N)

“NH4 nên là nguồn Nitrogen chính TRONG NỀN, NO3 nên là nguồn Nitrogen đệm trong nước”

Nitrogen (Nitơ) là đa lượng được cây hấp thụ nhiều nhất trong bộ ba N, P, K. Tất cả mọi thứ cần thiết cho sự sống của cây thủy sinh như protein, diệp lục, enzym, amino acid đều có N trong thành phần.

N thủy sinh tồn tại ở 3 dạng hòa tan là NH3/NH4, NO2 và NO3 và cây thủy sinh có thể hấp thụ được cả 3 dạng N này. Bạn có thể hiểu đơn giản là chất thải trong hồ của bạn sẽ được 1 nhóm vi khuẩn phân hủy thành NH3/NH4, sau đó 1 nhóm vi khuẩn khác đại diện là Nitrosomonas sẽ chuyển hóa thành NO2, và cuối cùng nhóm vi khuẩn đại diện là Nitrobacter sẽ chuyển hóa NO2 thành NO3. NO3 là chất an toàn và là thức ăn chủ yếu của cây thủy sinh. Đây gọi là chu trình nitơ trong bể cá.

Chu trình nito trong bể thủy sinh
Chi trình nitơ trong bể cá

Với NH3/NH4, AquaHomeLab gộp chung vì 2 chất này chuyển hóa qua lại tùy theo độ pH của môi trường. pH càng thấp NH4 sẽ càng nhiều và ngược lại. Ở pH 9.25 (25oC) nồng độ 2 chất này là bằng nhau. NH4 thường không gây hại cho động vật trong hồ thủy sinh, nhưng với NH3 thì chỉ cần 0.02 ppm là đủ để cá tép bắt đầu ngộ độc.

Cây thủy sinh cực kỳ thích và sẽ ưu tiên sử dụng NH4 thay vì NO3, cây có đủ NH4 cũng mập mạp, màu sắc tươi hơn rất nhiều so với môi trường chủ yếu là NO3. Nhưng Rêu cũng cực kỳ thích NH4, vậy nên NH4 chỉ nên được bổ sung qua rễ cây thủy sinh ở nền chứ không nên trôi tự do trong cột nước. Các bộ nền chất lượng như ADA Amazonia sẽ giữ được NH4 trong nền lâu hơn và tái chế N một cách thông minh. Bạn có thể xem thêm ở bài viết bên dưới của AHL:

Xem thêm: Nitrogen: Hiểu sâu về NH4 và NO3 để cây thủy sinh luôn mướt

Với NO2 (Nitrite), đây là sản phẩm trung gian trong quá trình chuyển hóa của vi sinh. Là chất cực độc với cá, tép, và cây thủy sinh cũng hấp thụ NO2 thụ động, ở nồng độ cao cây cũng bị độc tế bào. Trong hồ cá thủy sinh ổn định, NO2 đo được nên là 0 ppm.

Với NO3 (Nitrate), Khi hấp thụ NO3 cây thủy sinh sẽ dùng các enzyme để đảo ngược NO3 -> NH4. Điều này tiêu hao năng lượng của cây. Rêu hại là dạng sống đơn giản hơn nên chúng thích NH4 hơn NO3 rất nhiều. Đây là lý do NO3 nên được xem là nguồn nitrogen ổn định trong cột nước để đảm bảo cây không thiếu hụt.

Lượng NO3 thường được khuyến nghị trong hồ thủy sinh là 2 – 10 ppm (mức luôn tồn tại trong nước, không phải mức châm vào hàng tuần)

Để đảm bảo chắc chắn lượng NO3 trong bể của mình đang “đẹp”, bạn có thể mua 1 bộ test NO3 như Sera, hoặc của Thuyphuoc, TMS cũng rất chính xác.

Biểu hiện thiếu hụt/dư thừa nitrogen:

Thiếu hụt: N là nguyên tố di động tốt bên trong thực vật, khi môi trường bị thiếu cây sẽ rút N từ các lá già bên dưới để nuôi ngọn bên trên. Điều này làm cho các lá già bị vàng do thiếu diệp lục, dần sẽ mục rữa trong suốt và rụng. Cây không đủ N nên sẽ teo nhỏ và chết dần.

Trong bể thủy sinh, thiếu hụt N thường đến từ việc bạn dùng nền trơ hoặc bộ nền của bạn không có khả năng giữ N, N bị đẩy ra cột nước quá nhanh, phần lớn sẽ bị rửa trôi mỗi lần thay nước. Trường hợp này cây thường biểu hiện nhanh hơn, có thể đột ngột vàng cả cây rồi rữa. Ở những bộ nền chất lượng hơn, N thường được giữ lại và tái chế nhiều lần để cây dễ dàng hấp thụ ở dạng NH4+, Trường hợp này khi nguồn N dần cạn kiệt nếu không được bổ sung lại, cây thường biểu hiện từ từ và điển hình nhất là sinh trưởng chậm lại, ngọn mới nhỏ hơn.

biểu hiện cây thủy sinh thiếu nitơ
cây thủy sinh thiếu nitơ (N)

Dư thừa: Khi hệ vi sinh trong hồ thủy sinh của bạn yếu, không có đủ khả năng xử lý thì NH3/NH4 và NO2 tích lũy trong cột nước, bể của bạn sẽ bùng phát rêu hại và cá tép ngộ độc.

Còn NO3 mức độ dư thừa đến gây hại thường khá cao.Trong thử nghiệm của mình, AquaHomeLab từng đưa NO3 trong nước lên đến hơn 50 ppm nhưng cá tép vẫn khỏe mạnh (không nên thử với các loài nhạy cảm). Ở mức hơn 50 ppm, một số cây đỏ bị nhạt màu đi như các loại vẩy ốc đỏ, huyết thái dương…, ngọn của Bucep trong bể cũng bắt đầu xoăn. Các loại cây khác lá có xu hướng to ra nhưng lại mỏng, yếu và dễ rách, các đốt cây cũng dài ra nhưng rất khẳng khiu.

Về rêu hại, ở mức hơn 50 ppm NO3 chỉ có rêu xanh bám kính (GDA) là nhanh dày lên thôi. Các loại rêu khó xử lý như rêu tóc, sừng hươu, chùm đen không xuất hiện. Điều này chỉ đúng vì bể của AquaHomeLab trước thử nghiệm thực vật rất khỏe mạnh, không rêu hại. Nếu bạn tính đưa NO3 lên mức cao như 50 ppm, hãy cân nhắc vì nó không cần thiết.

Cây Trân Châu Ngọc Trai lá to, nhưng mỏng, dễ rách, đốt dài, khẳng khiu trong môi trường giàu NO3
Cây Trân Châu Ngọc Trai lá to, nhưng mỏng, dễ rách, đốt dài, khẳng khiu trong môi trường giàu NO3

2. Potassium (Kali – K)

“Thừa Kali không gây rêu hại, nhưng nồng độ K quá cao sẽ khóa chặt khả năng hấp thụ Canxi và Magie của cây.”

Kali là đa lượng cây thủy sinh cần nhiều thứ 2 sau Nitơ. Kali là chất điều phối giúp vận chuyển nước, dinh dưỡng và điều khiển mọi hoạt động bên trong cây. Đa số các bể thủy sinh đều thiếu Kali sau vài tuần nếu không bổ sung thêm phân nước. Điều này là do khả năng trao đổi cation (CEC) của nền. Để hiểu rõ hơn vì sao Kali lại dễ thiếu hụt như vậy bạn có thể xem ở bài viết ở link bên dưới:

Xem thêm: Tại sao bể thủy sinh mới cây lại thiếu dinh dưỡng?

Cũng như Nitơ, Kali là một chất di động trong cây, khi thiếu Kali lá già sẽ cháy mép, thủng lỗ li ti. Điều này là do khi không đủ Kali, lá già không còn được điều phối chất dinh dưỡng, nước…. dẫn đến việc mất nước tế bào, đầu tiên mép lá sẽ cháy vàng vì là vùng bị rút K đầu tiên, sau đó đến các vùng nhỏ và hình thành các lỗ hoại tử li ti.

Cây Trân Châu Ngọc Trai Thiếu Kali, cháy mép lá và thủng lỗ
Cây Trân Châu Ngọc Trai Thiếu Kali, cháy mép lá và thủng lỗ


Thừa Kali rất khó xảy ra trong bể thủy sinh, vì Kali lành tính hơn rất nhiều các chất dinh dưỡng khác và đặc biệt nó không gây rêu khi ở nồng độ cao. Nhưng trong một vài trường hợp, AHL bổ sung K ở mức rất cao, lên đến 40 – 50 ppm/tuần cho bể có gH ~ 4. Cây thủy sinh có xu hướng xoăn ngọn, vàng lá già nhưng gân lá vẫn xanh. Điều này là do khi K quá cao, Ca và Mg sẽ bị ức chế hấp thụ và các biểu hiện trên là hiện tượng thiếu giả Ca, Mg.

Do việc test Kali trong nước khá khó khăn, cùng với độ lành tính của Kali. Những người chơi kinh nghiệm thường bổ sung khoảng 15 – 20 ppm Kali mỗi tuần để đảm bảo Kali không phải là chất dinh dưỡng bị thiếu trong bể của họ.

Bạn có thể dùng K2SO4 hoặc KCl để bổ sung Kali, các loại phân nước trên thị trường cũng chỉ từ những chất này. Tuy nhiên, cần theo dõi TDS của nước, vì K+ không đi 1 mình mà nó mang theo các ion điện tích âm như SO42- và Cl. Những ion này có xu hướng tích lũy. Khi TDS tăng quá cao, hơn 70 – 100 ppm so với nước đầu vào, hãy cân nhắc thay nước lớn để giảm tích lũy.

Cây Rotala trong môi trường quá dư Kali, nổi gân lá già, đụt ngọn
Cây Rotala trong môi trường quá dư Kali, nổi gân lá già, đụt ngọn

3. Phosphorus (Lân – P)

“Đa số hồ thủy sinh thiếu PO4 trong giai đoạn đầu dù nền giàu dinh dưỡng”

Phosphorus là đa lượng cuối cùng trong nhóm NPK, cũng là đa lượng cần ít nhất. Phosphorus tồn tại trong bể thủy sinh ở dạng phosphate (PO4). Và PO4 tạo ra nhiều hiểu lầm thú vị trong giới thủy sinh.

Có một thực tế là bể thủy sinh có bộ nền mạnh cây lại dễ bị thiếu PO4 ở giai đoạn đầu. Điều này mâu thuẫn với suy nghĩ của nhiều người chơi khi cho rằng bể thủy sinh mới rất dư dinh dưỡng. Cũng không hẳn là thiếu, nói chính xác hơn PO4 trong bể thường ở dạng kết tủa khó cho cây thủy sinh khai thác. Đặc biệt là các loại cây thủy sinh có rễ mảnh như Trân Châu Ngọc Trai, Trân Châu Cuba, rất dễ thiếu P trong giai đoạn đầu dù bộ nền rất mạnh.

Bạn muốn tìm hiểu về vấn đề này, có thể xem thêm bài viết dưới đây của AquaHomeLab:

Xem thêm: Bản Chất Và Nồng Độ Lý Tưởng Của PO4 Trong Hồ Thủy Sinh

Nồng độ PO4 duy trì trong nước được khuyến nghị là khoảng 0.5 – 2 ppm tùy vào cường độ ánh sáng trong bể.

Thiếu hụt và dư thừa PO4 trong bể thủy sinh

Biểu hiện thiếu PO4 khá đặc trưng, cũng như 2 đa lượng trên, P là một chất di động tốt trong cây nên biểu hiện thiếu đầu tiên sẽ xuất hiện ở lá già với các dấu hiệu như lá già teo nhỏ, sẫm màu, cháy lá do không có P, cây thiếu năng lượng không hấp thụ được các chất khác. Một biểu hiện rõ ràng nhất khi PO4 thiếu nặng là xuất hiện rêu đốm xanh (GSA), loại rêu hại này có khả năng sinh tồn rất tốt trong môi trường nghèo PO4. Khi thiếu PO4 trầm trọng, các loại thực vật, rêu hại khác đều stress, không hấp thụ các dinh dưỡng khác, với GSA đây không khác gì 1 bữa tiệc mà không có ai tranh ăn.

Thử nghiệm nhỏ của AquaHomeLab phát hiện ra sự thật thú vị là khi PO4 trong nước bằng 0 ppm với ánh sáng mạnh, cây Trân Châu Ngọc Trai có xu hướng chui xuống nền. Đây là vấn đề rất nhiều bạn trồng Trân Châu Ngọc Trai gặp phải. Nếu chỉ mới chui, cây chưa quá yếu vì thiếu P, việc giảm sáng là có tác dụng, do cây vẫn đủ sức khai thác PO4 từ nền. Nhưng khi cây đã quá yếu, giảm sáng không còn tác dụng, lúc này bổ sung PO4 từ phân nước là phương án khả thi hơn. AquaHomeLab giữ nguyên ánh sáng và châm 1.5 ppm PO4/lần với 3 lần/tuần, cây ngóc đầu lên lại ngay trong 1 ngày.

Bể thủy sinh thiếu PO4, xuất hiện rêu đốm xanh (GSA)
Bể thủy sinh thiếu PO4, xuất hiện rêu đốm xanh (GSA)

Thừa PO4 thường ít gây hại trực tiếp. Đối với các loại cá tép nhạy cảm, mức PO4 trong nước khuyến nghị là dưới 5 ppm, còn các loại cá sức sống cao thì mức chịu đựng PO4 cao hơn nhiều. Một vài người chơi châm phân nước theo phương pháp EI dosing thường giữ mức PO4 trong nước lên đến 3 – 5 ppm cây cá vẫn rất khỏe mạnh và rêu hại rất ít khi xuất hiện.

Vấn đề gây hại lớn nhất khi PO4 trong nước quá cao là nó kết tủa vi lượng và khiến vi lượng trở nên kém khả dụng. Tuy nhiên vấn đề này cũng không cực đoạn như bạn tưởng. Vì vốn dĩ trong nền, vi lượng vẫn tồn tại ở dạng kết tủa và đợi cây, vi sinh khử chủ động. Nếu vi lượng dư thừa tồn tại thoải mái trong cột nước sẽ tạo vấn đề lớn hơn nhiều so với việc lo lắng PO4 kết tủa chúng.

Một bộ nền chất lượng, thông minh, sẽ giữ cả PO4 và vi lượng ở nền dạng “lỏng lẻo” hơn để cây có thể dễ dàng khai thác mà không bị kết tủa cứng. Tuy nhiên, khi ánh sáng tăng mạnh, nhu cầu vượt khả năng khai thác thì bổ sung PO4 dạng lỏng để cây có thể dùng ngay là điều cần thiết.

II. Trung lượng: (Canxi – Ca, Magie – Mg)

Ca (canxi), Mg (magie) là 2 thành phần cấu tạo nên độ cứng (gH) của nước. Cũng là 2 thành phần quan trọng với thực vật, BẮT BUỘC phải có trong nước. Với độ cứng nước từ 1 – 4 được coi là nước mềm và đa số cây thủy sinh thích môi trường nước mềm. Trong nước máy sinh hoạt luôn có sẳn 1 lượng Ca, Mg nhỏ với tỷ lệ tiêu chuẩn là 3 : 1 hoặc 4 : 1.

Với nước máy ở Tp.HCM có TDS là 70 ppm, AquaHomeLab test được gH khoảng 1 – 1.5 dgH. Đây là môi trường nước quá mềm, nhưng cây thủy sinh trong bể vẫn sinh trường khỏe. Điều này có thể chỉ đúng với bể của AquaHomeLab, khi bạn cung cấp ánh sáng cao hơn, nguy cơ thiếu hụt Ca và Mg là có. Để an toàn hơn bạn nên dùng các loại khoáng tép kéo gH lên 3 – 4 dgH. Bạn cũng có thể dùng CaCl2/CaSO4 và MgCl2/MgSO4 để tăng độ cứng. Tuy nhiên, nên ưu tiên dùng các loại khoáng tép trên thị trường vì nhà sản xuất đã tối ưu tỷ lệ Ca : Mg. Khi bạn tự bổ sung riêng lẻ có thể làm lệch tỷ lệ và gây thiếu hụt giả do 2 chất này dùng chung 1 cổng vận chuyển ion trong thực vật.

Ca, Mg được nền hấp thụ rất mạnh trong giai đoạn đầu theo cơ chế CEC. Ca, Mg luôn đi kèm 1 anion mang điện tích âm như SO42- để cân bằng điện tích. Khi nền hấp thu Ca, Mg sẽ nhả ion H+ ra nước, điều này làm nước giảm pH. Ca, Mg trong nước giảm mạnh trong khi các anion tồn tại sẽ làm môi trường nước xấu đi. Cũng là 1 lý do của việc nên thay nước liên tục trong tuần đầu tiên.

Ca, Mg tương tác với Kali ở nồng độ cao, khi nồng độ Kali quá cao mà môi trường nước quá mềm, Kali sẽ chiếm ưu thế trong các cổng hút dinh dưỡng, điều này làm cây không hấp thụ tốt Ca, Mg sẽ biểu hiện thiếu cả 2 chất dù môi trường nước vẫn có. Tuy nhiên, nồng độ K bắt đầu gây ức chế là rất cao, theo lý thuyết thì là gấp đôi Ca, Và Kali chỉ có nguồn bổ sung duy nhất là qua phân nước của bạn. Vậy nên nếu thấy TDS tăng quá cao so với TDS nước đầu vào và nghi ngờ thì chỉ cần thay nước lớn, reset lại nồng độ là xong.

Nếu bạn cần con số gợi ý về nồng độ trong nước thì mức tối ưu thường là Ca: 15 – 20 ppm, Mg: 3 – 5 ppm.

Khi thiếu hụt Canxi cây sẽ bị xoăn ngọn, tịt ngọn, do Ca không di động và là chất quyết định cấu trúc của cây, nên thiếu Ca ngọn không thể phát triển bình thường. Còn Mg liên quan rất nhiều đến diệp lục, và Mg di động tốt nên biểu hiện sẽ là vàng lá già nhưng gân vẫn còn xanh.

Thừa Ca, Mg thường không xảy ra, đa số là lệch tỷ lệ nặng nên chất này ức chế chất kia tạo ra biểu hiện giống thiếu hụt. Ở mức gH > 10, đa số cây sẽ biểu hiện hơi thiếu vi lượng vì Ca, Mg cạnh tranh hấp thụ. Tuy nhiên bể thủy sinh thường giữ nước mềm, độ cứng 3 – 4 dgH là phù hợp. Với độ cứng lên tới 10 dgH (TDS có thể lên đến 400 – 500 ppm) lúc này 1 vấn đề khác đáng lo hơn là nồng độ các ion hòa tan là quá cao. Điều này làm cây của bạn bị thiếu nước do áp suất thẩm thấu. Giống nguyên lý của việc muối sẽ hút nước, môi trường nước bên ngoài đậm đặc ion muối thì cây sẽ khó hút nước vào trong.

Cây thủy sinh thiếu Canxi và Magie (nước quá mềm), biến dạng ngọn, nổi gân lá
Cây thủy sinh thiếu Canxi và Magie (nước quá mềm), biến dạng ngọn, nổi gân lá

III. Vi Lượng

Vi lượng là những khoáng chất thiết yếu nhưng cây cần rất ít. Bạn có thể hình dung vi lượng giống vitamin, cần bổ sung rất ít nhưng cơ thể thiếu vitamin các chức năng sinh lý sẽ bất ổn.

Vi lượng gồm các chất Sắt (Fe), Mangan (Mn), Kẽm (Zn), Boron (B), Đồng (Cu), Molypden (Mo), Nikel (Ni)

1. Sắt – Fe – Iron

“Fe không nên tồn tại lâu trong cột nước, cột nước có Fe = 0 ppm là điều bình thường”

Đây là vi lượng quan trọng nhất, có nhiều drama nhất và cũng là vi lượng bị đem ra hù dọa nhiều nhất trong giới thủy sinh. Đa số bể thủy sinh sẽ thiếu Fe, dư thừa Fe khó xảy ra hơn rất nhiều.

Một vài kiến thức cơ bản về Fe trong thủy sinh

Sắt (Fe) cần thiết cho tất cả loại cây, dù là cây trên cạn, dưới nước, màu xanh, đỏ, vàng… Một hiểu lầm tai hại là cây có màu đỏ cần nhiều Fe hơn. Có vẻ hiểu lầm này đến từ việc bản thân Fe có màu đỏ. Thực tế Fe là cấu tạo của diệp lục, và cả cây xanh hay đỏ đều có diệp lục để quang hợp. Màu đỏ trên các loại cây như Rotala colorata đến từ anthocyanin, là một lớp bảo vệ ở trên lá kiểu như “kem chống nắng”. Và lớp kem này không có Fe trong thành phần.

Nhưng dù không cần nhiều Fe hơn, việc bổ sung đủ Fe giúp cây đỏ hơn là sự thật. Nguyên nhân do khi cây có đủ Fe, diệp lục bên dưới được tổng hợp đầy đủ cây sẽ quang hợp dễ dàng nên ưu tiên tổng hợp anthocyanin để chống stress ánh sáng. Khi thiếu Fe, diệp lục không đủ, cây quang hợp kém, sẽ giảm tổng hợp anthocyanin để ánh sáng dễ xuyên qua hơn.

Fe có cơ chế vận hành trong bể thủy sinh khá phức tạp, liên quan đến PO4, độ pH… Bộ nền của bạn cũng quyết định hiệu quả của Fe mà bạn châm vào. Để xem chi tiết về vấn đề này AquaHomeLab có phân tích chi tiết trong link dưới đây:

Fe khó tồn tại tự do trong cột nước khi nước có oxy, vì Fe hòa tan (Fe2+) rất dễ bị oxy hóa thành Fe3+, loại Fe này dễ bị kết tủa. Và Fe cũng không nên tồn tại tự do lâu trong cột nước, vì sẽ gây ra nhiều vấn đề như rêu hại, ROS (Phản ứng Fenton, gây cháy lá, tịt ngọn thứ mà mọi người hay nghĩ là ngộ độc Fe).

Thiếu Fe trong bể thủy sinh thường do pH cao > 7.0, vùng nền quá thoáng khí Fe trở thành dạng kết tủa khó khai thác. Lúc này cây cần tốn nhiều năng lượng để mở khóa Fe từ nền, lượng Fe cây mở khóa được chậm hơn so với nhu cầu quang hợp dưới ánh sáng cao, điều này làm cho cây bị thiếu Fe nhưng nền vẫn có. Đây cũng là lý do một vài loại cây bò nền có rễ yếu, ngắn, rễ ở vùng nền thoáng, rất dễ thiếu Fe điển hình là trân châu ngọc trai.

Thiếu hụt và dư thừa Fe trong bể thủy sinh

Biểu hiện thiếu Fe xảy ra rất nhanh đăc biệt khi bạn tăng sáng, nhu cầu Fe cao làm cây nhanh chóng thiếu hụt. Cây sẽ bị trắng ngọn do thiếu diệp lục, trắng rất rõ ràng, sau đó cây ngừng phát triễn và rữa dần. Fe là chất kém di động, không thể hút từ lá già lên nên ngọn sẽ là nơi biểu hiện thiếu hụt. Để giải quyết vấn đề này, bạn có thể châm thêm phân nước Fe với liều Fe an toàn ban đầu là 0.05 ppm/ngày hoặc 0.1 ppm Fe cách ngày. (đây là mức đủ cho đa số cây thủy sinh)

Các loại Fe trên thị trường thường là Fe chelate (Fe liên kết với 1 gốc hữu cơ để ngăn kết tủa) như Fe gluconate, Fe-EDTA, Fe-DTPA, Fe-EDDHA. Để giải quyết vấn đề thiếu hụt Fe trong hồ thủy sinh bạn nên ưu tiên dùng các loại Fe chelate yếu như Fe gluconate và EDTA. Lý do tại sao thì AquaHomeLab có phân tích trong bài viết chi tiết về Fe.

Lượng Fe bạn bổ sung vào 1 phần sẽ dính vào lá để cây hấp thụ, nhanh chóng giải quyết tình trạng thiếu hụt cấp tính, 1 phần sẽ bị dính vào biofilm, nền, vật liệu lọc, và phần dư thừa bị oxy hóa, kết tủa, lắng xuống nền trở thành kho dự trữ Fe dài hạn.

Vậy nên, sau châm Fe 1 ngày bạn test Fe ra 0 ppm trong nước là điều bình thường và thậm chí còn tốt cho chất lượng nước nữa, chỉ cần cây của bạn vẫn xanh đẹp là được. Đây cũng là kết quả tốt nhất mà một loại phân nước Fe nên hướng tới (giải quyết thiếu hụt cấp tính -> biến mất khỏi cột nước -> bổ sung Fe dự trữ cho nền)

Cây Trân Châu Ngọc Trai thiếu sắt
Cây Trân Châu Ngọc Trai thiếu sắt (Fe), trắng ngọn khá rõ ràng

Dư thừa Fe thực sự khó xảy ra hơn bạn tưởng, nếu chỉ có nền mới và bạn không bổ sung quá nhiều Fe từ phân nước (mỗi lần 0.5 – 1 ppm) thì khó có khả năng bể của bạn bị dư Fe. Như AquaHomeLab phân tích ở trên, Fe trong bể thủy sinh đa phần là ở dạng không tan, không tồn tại trong cột nước. Khi bạn châm vào Fe cũng biến mất khỏi cột nước rất nhanh.

Một vài trường hợp có thể nghĩ do nền nhả Fe quá nhiều đó là pH quá thấp (dưới 6.0) và bí nền trầm trọng. điều này thường xảy ra ở các bộ nền quá già, tích lũy lớp mùn bã hữu cơ dày đến nổi cực kỳ yếm khí, một vài loại cốt nền trộn bằng các loại đất hữu cơ, những loại cốt này bị nén quá “chặt” dưới lớp soil nền cũng gây ra yếm khí. Trong môi trường này Fe dễ bị hòa tan, bể cũng sẽ bùng phát rêu hại và có thể bạn cần làm lại bộ nền khác.

Biểu hiện dư thừa Fe thường đến khi lượng Fe tích lũy trong cột nước đạt đến 0.5 – 1 ppm và ánh sáng cao. Các loại cây nhạy cảm sẽ bị phản ứng ROS làm cháy ngọn, có thể phân biệt với trắng ngọn của thiếu Fe. Và trên 1 ppm các loại cá tép bắt đầu bị ngộ độc.

2. Mangan – Mn

Cũng là một vi lượng quan trọng cho cây thủy sinh, nhưng cây thủy sinh cần lượng Mn ít hơn Fe, thường tỷ lệ Fe : Mn là 2 : 1. Tuy nhiên, đây là tỷ lệ cây hấp thụ, không phải tỷ lệ nên tồn tại trong nền hay cột nước.

Mn tham gia nhiều vào các vấn đề sinh lý của cây như các enzyme liên quan đến quang hợp, tổng hợp chất béo.

Thiếu Mn, cây sử dụng Fe và NH4+ kém hiệu quả, điều này làm cây có biểu hiện tương tự thiếu đạm và sắt, vàng lá, vàng ngọn. Tuy nhiên không như Fe, Mn rất linh động trong nền thủy sinh, Mangan oxit cũng dễ dàng bị vi sinh khử về dạng hòa tan. Cây thủy sinh hoàn toàn có thể lấy Mn từ nền như lấy đồ trong túi. Nếu bể của bạn có bộ nền tốt và dùng nước máy thì không cần quá lo việc thiếu Mn.

Thừa Mn, đây là vấn đề thường gặp hơn khi bạn bổ sung các loại phân vi lượng tổng hợp. Do Mn quá dễ khai thác, nếu bạn bổ sung thêm các loại vi lượng tổng hợp cây có nguy cơ thừa Mn. Không như Fe sẽ biến mất nhanh khỏi cột nước, Mn tồn tại trong nước lâu hơn nhiều và khó bị oxy hóa. Điều này làm cho tỷ lệ Fe : Mn trong cột nước có thể bị lệch hẳn sang phía Mn.

Khi Mn tích lũy quá nhiều ở chồi non sẽ dẫn đến biến dạng chồi non, xoăn lá, nhăn nhúm (dễ nhầm lẫn với thiếu Canxi), trên lá già thường bị các đốm khô rồi thủng do stress oxy hóa cao. Mangan oxit bám trên lá cũng làm lá có màu hơi nâu. Quan sát của AHL trong các bể bổ sung vi lượng tổng hợp có tỷ lệ Fe : Mn đúng hoặc thấp hơn 2 : 1, lá cây có 1 lớp mờ trên bề mặt và mất độ căng bóng, AHL nghi ngờ điều này có liên quan đến Mn nhưng đây là quan sát chưa thực chứng, bạn chỉ nên xem là tham khảo. Mn cũng cạnh tranh hấp thụ với Fe, Ca nên khi nước tích lũy Mn cũng có luôn biểu hiện thiếu 2 chất trên.

Có thể vì lý do này, các hãng thủy sinh cao cấp thường thiết kế chai vi lượng tổng hợp của họ có nồng độ Fe cao hơn Mn so với tỷ lệ 2 : 1 một chút và có thêm 1 chai Fe riêng để xử lý vấn đề thiếu Fe cấp tính. Bạn cũng không nên cứng nhắc ở tỷ lệ 2 : 1. AHL xin nhắc lại đây là tỷ lệ cây hấp thụ chứ không phải tỷ lệ nên có trong nền và nước.

3. Kẽm – Zn

Đây là vi lượng quyết định hình thái và các hormone tăng trưởng của cây. Tuy nhiên cũng là một kim loại nặng cực độc với động vật trong hồ cá thủy sinh. Zn còn rất dễ hòa tan trong nước, hơn cả Mn.

Điều này có vẻ khá nguy hiểm, nhưng thực tế nhu cầu Zn của cây thủy sinh là khá thấp, khoảng 0.005 ppm, trong khi ngưỡng bắt đầu gây độc là 0.1 ppm. Khi thay nước bằng nước máy, bạn cũng sẽ bổ sung 1 lượng nhỏ Zn cho cây. Các loại vi lượng tổng hợp trên thị trường đa số cũng đã giảm lượng Zn trong thành phần xuống mức vừa đủ. Chỉ cần bạn có thay nước đều đặn hàng tuần thì không cần phải quá lo lắng.

4. Boron – B

Đây là vi lượng liên quan đến việc hấp thụ Canxi của cây và phân chia tế bào. Thiếu B ngọn non sẽ bị thâm đen và hoại tử. Thừa B thì ngọn sẽ bị dị dạng.

Thực tế trong bể thủy sinh hiếm khi thiếu hoặc thừa B. Vì B cần 1 lượng rất rất nhỏ. Thay nước, thức ăn cho cá tép, nền đều cung cấp 1 lượng nhỏ B đủ cho cây. Các loại phân vi lượng tổng hợp thường cũng đã tính toán để B không dư thừa nếu bón đúng liều. Thừa thường xảy ra khi bạn cho quá nhiều vi lượng tổng hợp, nhưng những vi lượng liều nặng hơn như Fe, Mn, Zn sẽ thừa trước là B.

5. Đồng – Cu

Tham gia vào quá trình chuyển hóa Đạm. Thiếu Cu lá non sẽ bị mất màu xanh và cuộn cong lại, nhưng điều này hiếm khi xảy ra trừ khi bạn dùng nước RO và nền trơ. Cu đặc biết độc hại cho ốc, tép. Ngưỡng bắt đầu gây stress với tép là 0.002 ppm, và gây chết hàng loạt là 0.01 ppm. Các loại tép nhạy cảm có thể có ngưỡng thấp hơn. May mắn là ngưỡng Cu cây cần cũng thấp hơn mức này rất nhiều. Đa số trong nước máy, nền, thức ăn bổ sung vào đã đủ. Các loại phân nước vi lượng chất lượng cũng thường để rất ít Cu.

6. Molypden (Mo) và Nikel (Ni)

Là 2 vi lượng quan trọng nhưng thực tế bạn không cần phải quan tâm đến 2 vi lượng này. Vì lượng cần của 2 vi lượng này chỉ ở dạng “dấu vết”, và thậm chí bên dưới 2 vi lượng này vẫn còn nhiều vi lượng “dấu vết” khác như Cobalt (Co), Silicon (Si), Selenium (Se)… cần thiết cho cây.

Nhưng các nhà sản xuất phân bón thường không đưa Mo, Ni và các vi lượng “dấu vết” này vào công thức. Vì chỉ cần tạp chất trong các loại vi lượng khác, ví dụ Fe2O3 tinh khiết 99% thì 1% còn lại cũng có dấu vết của các vi lượng này và nó đủ cho cây. Trong nước máy, soil nền, thức ăn cho cá, phân cá… cũng đủ cung cấp các chất này. Việc bổ sung thêm nó chỉ làm tăng nguy cơ dư thừa mà thôi.

IV. KẾT LUẬN

Với những kiến thức cơ bản trên đây, bạn có thể hiểu và kiểm soát hệ dinh dưỡng của bể. Tuy nhiên, một hệ sinh thái vận hành có những tương tác nhân quả phức tạp hơn. Nhưng ở phạm vi một bài viết tổng hợp nền tảng, AquaHomeLab sẽ chỉ gói gọn như trên. Bạn có thể xem thêm các bài viết chuyên sâu của AHL để hiểu thêm cách hệ sinh thái trong hồ thủy sinh vận hành, và dùng điều đó để kiểm soát hệ sinh thái của bạn.

Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào hãy để lại bình luận bên dưới, AHL sẽ trả lời trong khả năng có thể!

Viết bởi: AHL – AquaHomeLab.vn

Leave Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *